Sau hai vụ sản xuất thử nghiệm, giống lúa nếp Tú Lệ cho thấy khả năng sinh trưởng tốt, năng suất khả quan và chất lượng gạo được đánh giá cao tại xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai. Đây là cơ sở để địa phương xem xét mở rộng diện tích, đa dạng hóa cơ cấu giống lúa và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Trong vụ mùa năm 2026, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Hưng Khánh phối hợp với Phòng Kinh tế xã triển khai mô hình trồng thử nghiệm giống nếp Tú Lệ trên diện tích 10 sào. Mô hình có sự tham gia của 8 hộ dân thuộc 6 thôn gồm Núi Vì, Ngọn Đồng, Hồng Hải, Hồng Ca, Hồng Lâu và Khe Ron.
Mục tiêu của chương trình là đánh giá khả năng thích nghi của giống nếp Tú Lệ với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tại địa phương, từ đó có thêm cơ sở lựa chọn giống phù hợp để bổ sung vào cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Ngay từ đầu vụ, cán bộ chuyên môn đã tiến hành khảo sát, lựa chọn các khu ruộng có điều kiện đất đai khác nhau nhằm đánh giá khách quan khả năng thích ứng của giống. Các hộ tham gia được hướng dẫn quy trình gieo cấy, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.
Trong suốt quá trình sản xuất, cán bộ kỹ thuật thường xuyên theo dõi tình hình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, kịp thời hướng dẫn người dân xử lý những vấn đề phát sinh trên đồng ruộng.
Kết quả bước đầu cho thấy giống nếp Tú Lệ có khả năng sinh trưởng khá tốt, đẻ nhánh tập trung và chống đổ tương đối hiệu quả. Bình quân mỗi khóm đạt khoảng 8 bông, cao hơn 1 bông so với giống nếp địa phương. Năng suất ước đạt khoảng 50 tạ/ha, nhỉnh hơn khoảng 2 tạ/ha so với giống đang được canh tác.
Đây là những tín hiệu tích cực, cho thấy giống nếp Tú Lệ có tiềm năng phát triển tại vùng đất Hưng Khánh.
Nếp Tú Lệ là giống lúa thuần chất lượng cao, vốn được trồng phổ biến tại khu vực Tú Lệ. Giống có thời gian sinh trưởng trong vụ mùa khoảng 120–125 ngày, chiều cao cây từ 120–130 cm, khả năng trỗ tập trung, bông to và dài, hạt gạo có hình dáng tròn đặc trưng.
Trong điều kiện canh tác thông thường, năng suất trung bình của giống đạt khoảng 42–45 tạ/ha. Nếu được đầu tư thâm canh hợp lý, năng suất có thể đạt 50–52 tạ/ha.
Một ưu điểm đáng chú ý của giống nếp này là chất lượng gạo sau xay xát. Tỷ lệ gạo thu hồi đạt khoảng 70–72%, hạt gạo trắng, trong, khi nấu cho cơm mềm, vị đậm và có mùi thơm đặc trưng.
Đây là yếu tố quan trọng giúp giống nếp Tú Lệ có lợi thế về chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và mở ra khả năng phát triển sản phẩm gạo nếp đặc sản.
Qua thực tế sử dụng gạo sau thu hoạch, người dân tham gia mô hình cũng đánh giá cao hương vị và chất lượng của giống. Điều này cho thấy việc đưa giống nếp Tú Lệ vào sản xuất không chỉ hướng đến cải thiện năng suất mà còn góp phần nâng cao giá trị nông sản.
Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Chủ tịch UBND xã Hưng Khánh, địa phương đã tổ chức trồng thử nghiệm giống nếp Tú Lệ qua hai vụ, gồm vụ xuân và vụ mùa, nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng cũng như mức độ phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế.
Qua theo dõi, giống lúa phát triển tốt, cho năng suất khá và chất lượng gạo được người dân đánh giá tích cực. Trên cơ sở những kết quả đạt được, địa phương dự kiến tiếp tục mở rộng diện tích gieo cấy giống nếp Tú Lệ trong thời gian tới.
Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả khi nhân rộng, việc theo dõi và đánh giá cần được duy trì trong các vụ sản xuất tiếp theo. Các chỉ tiêu về sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đổ và năng suất thực tế cần được kiểm chứng trên nhiều điều kiện đồng ruộng khác nhau.
Việc lựa chọn giống lúa phù hợp với điều kiện tự nhiên, kết hợp áp dụng quy trình canh tác khoa học sẽ giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Mô hình nếp Tú Lệ tại Hưng Khánh là một hướng thử nghiệm có triển vọng trong quá trình đa dạng hóa cơ cấu giống cây trồng. Nếu tiếp tục phát huy những ưu điểm về năng suất và chất lượng, giống lúa này có thể trở thành một lựa chọn mới, góp phần nâng cao giá trị sản xuất lúa nếp và thu nhập cho người dân địa phương.
Nguồn tham khảo: Báo Nông nghiệp và Môi trường, bài viết Nếp Tú Lệ bén đất Hưng Khánh, ngày 04/11/2026.